Giá tiêu Việt Nam thấp nhất trong số các nhà xuất khẩu lớn, đâu là nguyên nhân?

Với sự sụt giảm liên tiếp kể từ đầu năm, giá tiêu của Việt Nam hiện đã rơi xuống mức thấp nhất trong số các nhà xuất khẩu lớn, trên thị trường quốc tế.

Giá tiêu giảm mạnh, đâu là nguyên nhân?

Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá hồ tiêu Việt Nam trên thị trường quốc tế hiện đang ở mức thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu.

Tính đến ngày 7/4, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam dao động trong khoảng 6.000–6.100 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l, giảm 500–600 USD/tấn kể từ đầu năm và là mức thấp nhất ghi nhận được trong 9 tháng qua kể từ tháng 6/2025. Giá tiêu trắng cũng giảm 350 USD/tấn, xuống còn 8.900 USD/tấn.

Ngược lại, giá tiêu tại các nước khác lại đồng loạt tăng và đứng ở mức cao hơn. Trong đó, Indonesia ghi nhận mức tăng mạnh nhất, với giá tiêu đen và tiêu trắng lần lượt tăng 368 USD/tấn và 191 USD/tấn so với cuối năm ngoái, đạt 7.106 USD/tấn và 9.362 USD/tấn.

Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 tăng nhẹ 50 USD/tấn, lên 6.150 USD/tấn.

Ở Malaysia, giá tiêu đen tăng 300 USD/tấn lên 9.300 USD/tấn, còn tiêu trắng tăng 200 USD/tấn, đạt 12.200 USD/tấn.

 

Trên thị trường nội địa, giá thu mua hồ tiêu hiện dao động quanh 138.000–139.000 đồng/kg, giảm 8–9% (11.500–13.000 đồng/kg) so với đầu năm và thấp hơn khoảng 10% (16.000 đồng/kg) so với cùng kỳ năm trước.

 

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), giá hạt tiêu nội địa Việt Nam giảm trong thời gian gần đây chủ yếu là do nguồn cung tăng mạnh khi vào vụ thu hoạch chính, trong khi nhu cầu mua chưa tăng tương ứng.

Còn theo báo cáo mới đây của Simexco Daklak, thị trường hồ tiêu đầu năm 2026 đang phải đối mặt với sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu khi sản lượng trong nước được dự báo giảm từ 15% đến 20% do thời tiết bất lợi và cây trồng già cỗi.

Bên cạnh những vấn đề nội tại, ngành còn chịu áp lực lớn về logistics do xung đột leo thang tại Trung Đông, khiến chi phí vận chuyển tăng gấp 3–4 lần và buộc nhiều tàu phải chuyển hướng, tránh đi qua Biển Đỏ.

Với việc Trung Đông chiếm khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam và đóng vai trò là trung tâm trung chuyển quan trọng sang EU và Mỹ, một số nhà xuất khẩu đã tạm thời ngừng nhận đơn hàng mới tới khu vực này nhằm giảm thiểu rủi ro từ phụ phí chiến tranh và chậm trễ giao hàng.

Tính đến tháng 3 năm 2026, eo biển Hormuz được xem như đã đóng cửa đối với hoạt động vận chuyển container thương mại. Sau nhiều vụ tấn công bằng drone và tên lửa vào tàu chở dầu, các hãng vận tải lớn như Maersk, MSC và CMA CGM đã ngừng toàn bộ hoạt động đi qua khu vực này.

Tình trạng tê liệt khu vực, các trung tâm quan trọng như Jebel Ali (UAE) và các cảng tại Bahrain và Oman phải tạm ngừng hoạt động hoặc rơi vào tình trạng ùn tắc nghiêm trọng khi tàu thuyền tìm nơi trú ẩn an toàn.

Về phụ phí rủi ro chiến tranh, các hãng tàu đã áp dụng mức phụ phí mới rất cao; ví dụ, Hapag-Lloyd đã áp dụng phụ phí 1.500 USD/TEU cho các tuyến vận chuyển đến Vịnh Ba Tư.

Giá sẽ sớm phục hồi trở lại?

Mặc dù sụt giảm trong thời gian qua, Cục Xuất nhập khẩu nhận định giá hạt tiêu nội địa sẽ sớm phục hồi khi nguồn cung dần thu hẹp sau khi bán ra mạnh trong vụ, cùng với đó, nhu cầu nhập khẩu quốc tế dự báo sẽ cải thiện, đặc biệt từ Mỹ và các thị trường lớn khác.

Theo thống kê bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 3, Việt Nam xuất khẩu 30.638 tấn hồ tiêu các loại, kim ngạch 199,3 triệu USD, tăng 2,2 lần cả về lượng và kim ngạch so với tháng trước, đồng thời tăng 51,3% về lượng và 40,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Lũy kế đến hết quý I, xuất khẩu hồ tiêu đạt 66.350 tấn, với tổng giá trị kim ngạch thu về 430 triệu USD, tăng mạnh 39,2% về lượng và kim ngạch tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy đà phục hồi rõ nét của hoạt động xuất khẩu ngay từ đầu năm. Đáng chú ý, đây cũng là mức kim ngạch cao nhất trong các quý I từ trước đến nay.

Mặc dù vậy, giá tiêu xuất khẩu trong quý đầu tiên của năm lại ghi nhận mức giảm 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt bình quân 6.481 USD/tấn.

 

Về thị trường, Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất của Việt Nam trong quý I với khối lượng đạt 16.859 tấn, tăng 63,9% so với cùng kỳ và chiếm 25,4% thị phần.

Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ với 8.563 tấn, tăng tới 321,0%, trở thành thị trường lớn thứ hai. Tiếp theo là UAE đạt 3.182 tấn, tăng 15,4%; Ấn Độ đạt 2.456 tấn, giảm 27,1% và Philippines đạt 2.383 tấn, tăng 46,9%.

Khu vực châu Á tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, chiếm 46% tổng lượng xuất khẩu, trong khi châu Mỹ chiếm 28% và châu Âu chiếm 20%.

Các doanh nghiệp xuất khẩu lớn tiếp tục duy trì vai trò dẫn dắt thị trường, trong đó Phúc Sinh vươn lên đứng đầu với 5.546 tấn, tăng 39,6%. Tiếp theo là Olam Việt Nam đạt 5.165 tấn, tăng 1,1%; Nedspice Việt Nam đạt 4.811 tấn, giảm nhẹ 2,3%; Haprosimex JSC đạt 4.534 tấn, tăng mạnh 82,8% và Simexco Đắk Lắk đạt 4.145 tấn, tăng 69,5%.

Nhìn chung, nhóm doanh nghiệp lớn ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, đặc biệt ở các doanh nghiệp thương mại và chế biến sâu.

 

Theo VPSA, giá hồ tiêu vẫn duy trì ở mức cao, nhưng việc tái canh còn hạn chế do cạnh tranh từ các loại cây trồng có giá trị cao hơn và không còn quỹ đất mới, khiến việc mở rộng diện tích trồng trong năm 2026 gặp khó khăn.

Sản lượng hồ tiêu toàn cầu năm 2026 được dự báo khoảng 530.000 tấn, tăng nhẹ so với năm 2025 nhưng vẫn thấp hơn mức của năm 2024, trong khi nhu cầu tiêu dùng vẫn duy trì ở mức cao.

Tại Việt Nam, sản lượng vụ 2026 ước đạt 170.000–180.000 tấn, giảm 15–20% so với năm 2025 do thời tiết bất lợi, diện tích giảm và cạnh tranh từ các cây trồng khác.

Đáng chú ý, lượng tồn kho chuyển sang gần như cạn kiệt, chỉ còn khoảng 40.000 tấn tại Việt Nam, làm gia tăng mức độ dễ tổn thương trước các gián đoạn. Trong tháng 1/2026, khu vực Tây Nguyên có nguy cơ chịu ảnh hưởng từ biến động thời tiết, có thể khiến nguồn cung tiếp tục bị thắt chặt.

Để duy trì hoạt động sản xuất, Việt Nam đã nhập khẩu 21.201 tấn hồ tiêu trong quý I, tăng tới 2,2 lần (118,9%) so với cùng kỳ 2025, kim ngạch đạt 121,0 triệu USD. Con số này tương đương với khoảng 32% khối lượng xuất khẩu của cả nước.

“Điều này cho thấy xu hướng gia tăng nhập khẩu rõ rệt nhằm phục vụ chế biến và tái xuất trong bối cảnh nguồn cung nội địa hạn chế”, VPSA cho biết.

Nguồn cung chủ yếu đến từ Campuchia với 11.686 tấn (55,1%), tiếp theo là Brazil đạt 4.601 tấn (21,7%) và Indonesia đạt 3.538 tấn (16,7%). Đáng chú ý, lượng nhập khẩu từ Campuchia tăng gấp 9 lần so với cùng kỳ năm trước, trong khi Brazil tăng nhẹ 5,5% và Indonesia giảm 4,6%. 

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-viet-nam-thap-nhat-trong-so-cac-nha-xuat-khau-lon-dau-la-nguyen-nhan-202647145814330.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/