Kết thúc phiên giao dịch ngày 29/7, giá thép thanh kỳ hạn tháng 8/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 34 nhân dân tệ (1,12%) xuống còn 3.009 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 giảm 6,5 nhân dân tệ (0,88%) xuống còn 730 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 tăng 0,06 USD (0,06%) lên 97,90 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 8/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Giá quặng sắt kỳ hạn giảm nhẹ khi biên lợi nhuận của các nhà máy thép tại Trung Quốc thu hẹp, kéo giảm nhu cầu đối với nguyên liệu luyện thép và lấn át các rủi ro về nguồn cung từ Australia, theo Reuters.
Về phía nguồn cung, rủi ro tại Australia đến từ tranh chấp lương tại cảng Port Hedland của tập đoàn BHP, nơi một cuộc đình công có thể gây gián đoạn lượng quặng sắt xuất khẩu trị giá 80 - 120 triệu USD mỗi ngày. Tuy nhiên, Rio Tinto vừa công bố lượng quặng sắt giao trong nửa đầu năm cao kỷ lục 157,7 triệu tấn, cho thấy nguồn cung nhìn chung vẫn dồi dào.
Ở thị trường bán thành phẩm, giá phôi dẹt (slab) trên các thị trường khu vực giảm 3 USD/tấn trong tháng 7 sau một giai đoạn giá cao, theo GMK Center. Giá xuất khẩu tham chiếu của phôi dẹt Brazil giảm 3 USD xuống 577 USD/tấn (FOB), song vẫn gần vùng đỉnh hai năm nhờ nhu cầu nội địa và xuất khẩu mạnh.
Cụ thể, xuất khẩu phôi dẹt của Brazil trong tháng 6 tăng 64% so với tháng trước lên 642.000 tấn, nhờ đẩy mạnh giao hàng sang Mỹ, châu Âu và Mexico; sản lượng phôi dẹt nội địa trong tháng 6 cũng tăng 5% lên 751.000 tấn. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá FOB Biển Đen ổn định ở mức 510 USD/tấn nhưng giảm 3 USD so với tháng 6, do nhu cầu từ các nhà máy thép hạ nhiệt cùng giá thép phế đi xuống.
Tại châu Á, giá phôi dẹt giảm mạnh và giao dịch trầm lắng, với cạnh tranh chủ yếu đến từ Trung Quốc và Indonesia; phôi Trung Quốc được chào ở mức 480 - 490 USD/tấn (CFR Indonesia). Một nhà sản xuất mới là PT Permai Metal Indonesia - liên doanh giữa Guangxi Guixin Steel và Tập đoàn Tsingshan - đã đi vào hoạt động với công suất 1,5 triệu tấn/năm, chào bán lô hàng tồn ở mức 470 USD/tấn (FOB); trong khi giá phôi dẹt tại Nhật Bản ổn định ở mức 520 USD/tấn.
Trong nước, hầu hết doanh nghiệp đều thay đổi giá thép xây dựng. Trong đó, các doanh nghiệp như Hòa Phát, thép Việt Ý Miền Bắc và Việt Đức Miền Bắc đều hạ giá thép CB240 từ 100-200 đồng/kg, thép CB300 giảm sâu 800-910 đồng/kg; cụ thể Hòa Phát báo giá mức 14.920 đồng/kg với CB240 và 14.210 đồng/kg với D10 CB300. Các doanh nghiệp khác như VAS Miền Trung, Kyoei, Tung Ho đều hạ giá thép CB300 từ 500-600 đồng/kg.
Trong khi đó, một số doanh nghiệp khác tăng giá thép CB240, cụ thể Pomina tăng 710 đồng/kg lên mức 14.850 đồng/kg, CB300 tăng 400 đồng lên mức14.390 đồng/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 30/7/2026. Nguồn: SteelOnline
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-thep-hom-nay-307-thep-xay-dung-trong-nuoc-bien-dong-manh-202672923113201.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/