Mở cửa phiên giao dịch 2/3, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 trên Sàn Thượng Hải tăng 0,1% (4 nhân dân tệ) lên mức 3.065 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,5% (4 nhân dân tệ) lên mức 760 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,7 USD lên mức 99,05 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Theo dữ liệu từ World Steel Association (WorldSteel) được Ukrmetallurgprom dẫn lại, sản lượng gang toàn cầu trong tháng 1/2026 đạt 110,78 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2025 nhưng tăng 2,8% so với tháng trước. Trong đó, sản xuất bằng phương pháp hoàn nguyên trực tiếp (DRI) đạt 10,24 triệu tấn, còn phương pháp lò cao đạt 100,54 triệu tấn.
Các quốc gia sản xuất gang lớn nhất trong tháng gồm Trung Quốc đạt 65,92 triệu tấn (-10,9% so với cùng kỳ), Nhật Bản đạt 10,34 triệu tấn (+103,8% so với cùng kỳ) và Ấn Độ đạt 8,47 triệu tấn (-35% so với cùng kỳ).
Tại Đức, theo số liệu của German Steel Industry Association (WV Stahl), các doanh nghiệp thép đã sản xuất 3,08 triệu tấn thép trong tháng 1/2026, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,5% so với tháng liền trước. Trong đó, sản lượng thép từ lò thổi oxy đạt 2,21 triệu tấn (+19,3% so với cùng kỳ; +16,5% so với tháng trước), còn lò hồ quang điện đạt 870 nghìn tấn (+5,5% so với cùng kỳ; -7,7% so với tháng trước).
Sản lượng gang của Đức tăng 18,8% so với cùng kỳ và 9,3% so với tháng trước, đạt 2,04 triệu tấn; sản lượng thép cán đạt 2,49 triệu tấn, tăng lần lượt 3,2% và 2,6%.
Hiệp hội nhận định rằng sản lượng thép tại Đức đã tăng mạnh trong tháng 1/2026. Tuy nhiên, chưa có dấu hiệu cho thấy một sự phục hồi bền vững. Xét trong 10 năm gần đây, dù ghi nhận mức tăng hiện tại, sản lượng vẫn thấp hơn khoảng 5% so với mức trung bình của cả giai đoạn này. Điều đó cho thấy ngành thép vẫn đang hoạt động dưới mức trung bình dài hạn.
Tình hình đặc biệt căng thẳng ở phân khúc lò hồ quang điện – vốn đã có mức phát thải CO₂ tương đối thấp. Sản lượng hiện tại của khu vực này thấp hơn khoảng 11% so với mức trung bình của 10 năm qua, theo đánh giá của German Steel Industry Association.
Trong nước, giá thép xây dựng bình ổn trở lại. Cụ thể, Hòa Phát báo giá thép D10 CB300 ở mức 14.260 đồng/kg, tương đương giá thép cuộn CB240.
Tương tự, Thép Việt Ý miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 và D10 CB300 lần lượt 14.140 và 14.040 đồng/kg. Thép VAS miền Trung ghi nhận giá CB240 13940 đồng/kg và CB300 13640 đồng/kg.
Tại thép Việt Đức miền Bắc, giá thép CB240 ở mức 13.950 đồng/kg, CB300 ghi nhận 13.750 đồng/kg. Thép Kyoei ghi nhận CB240 13940 đồng/kg và CB300 13740 đồng/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 2/3/2026. Nguồn: SteelOnline
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-thep-hom-nay-23-nhich-nhe-voi-tam-ly-than-trong-20263272527376.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/