Kết thúc phiên giao dịch 20/3, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 trên Sàn Thượng Hải giảm 0,22% (7 nhân dân tệ) về mức 3.123 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,06% (0,5 nhân dân tệ) về mức 836 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,16 USD về mức 107,15 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Trong khi đó, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 5 được hỗ trợ bởi triển vọng nhu cầu cải thiện tại Trung Quốc và những lo ngại về nguồn cung liên quan đến các hạn chế đối với sản phẩm của tập đoàn khai khoáng BHP, theo Reuters.
Cụ thể, hợp đồng quặng sắt giao tháng 5/2026 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) tăng 1,05% lên 815,5 nhân dân tệ/tấn (tương đương 118,29 USD/tấn), dù tính chung cả tuần vẫn giảm 0,43%.
Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc thông báo đã tạm thời dỡ bỏ các hạn chế đối với việc mua quặng Jimblebar fines của BHP trong vòng một tuần trước đó. Tuy nhiên, lệnh cấm trước đó đối với quặng Newman fines vẫn làm dấy lên lo ngại về nguồn cung, đặc biệt khi tranh chấp giữa BHP và Tập đoàn Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc liên quan đến điều khoản hợp đồng chưa được giải quyết.
Ở chiều cầu, sản lượng gang nóng – chỉ báo quan trọng về nhu cầu quặng sắt – tiếp tục tăng. Theo dữ liệu từ Shanghai Metals Market, sản lượng trung bình hàng ngày tại 242 nhà máy thép đã tăng thêm 38.000 tấn so với tuần trước tính đến ngày 18/3 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Ngoài ra, tồn kho thép xây dựng tại Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trong tuần này, nhưng với tốc độ chậm hơn đáng kể. Thị trường kỳ vọng sẽ sớm bước vào giai đoạn giảm tồn kho từ tuần tới, qua đó hỗ trợ nhu cầu nguyên liệu đầu vào.
Tuy vậy, đà tăng của giá quặng sắt vẫn bị hạn chế bởi lượng tồn kho ở mức cao kỷ lục và sản lượng nội địa gia tăng. Theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, sản lượng quặng sắt thô trong 2 tháng đầu năm đã tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt 161,64 triệu tấn.
Ở thị trường quốc tế, Anh cũng vừa công bố kế hoạch giảm hạn ngạch nhập khẩu thép miễn thuế và tăng gấp đôi thuế nếu vượt hạn ngạch, nhằm bảo vệ ngành thép trong nước.
Trên Sàn Đại Liên, các nguyên liệu sản xuất thép khác cũng ghi nhận mức tăng nhẹ, với than cốc tăng 0,55% và than luyện cốc tăng 0,34%.
Trong khi đó, các sản phẩm thép trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải diễn biến trái chiều, gồm thép cây giảm 0,26%, thép cuộn cán nóng giảm 0,18%, trong khi thép dây tăng 0,8% và thép không gỉ tăng 0,93%.
Trong nước, giá thép xây dựng bình ổn ở các doanh nghiệp. Cụ thể, Hòa Phát báo giá thép D10 CB300 và giá thép cuộn CB240 đều ở mức 14.720 đồng/kg.
Tương tự, Thép Việt Ý miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 và D10 CB300 lần lượt 14.440 và 14.340 đồng/kg. Thép Việt Đức miền Bắc ghi nhận giá CB240 và CB300 đều ở mức 14.550 đồng/kg.
Thép Kyoei cũng ghi nhận CB240 13940 đồng/kg và CB300 13740 đồng/kg. Thép Pomina Thái Nguyên ghi nhận giá CB240 14.140 đồng/kg và CB300 là 13.990 đồng/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 21/3/2026. Nguồn: SteelOnline
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-thep-hom-nay-213-giang-co-khi-nhu-cau-cai-thien-va-cang-thang-nguon-cung-tu-trung-quoc-2026321832832.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/