Kết thúc phiên giao dịch 10/2, giá thép thanh kỳ hạn tháng 3/2026 trên Sàn Thượng Hải giảm 0,42% (13 nhân dân tệ) về mức 3.051 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 0,38% (3 nhân dân tệ) lên mức 786 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 0,28 USD lên mức 100,18 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 3/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Trong khi đó, giá quặng sắt kỳ hạn xa đi ngang, chấm dứt chuỗi 6 phiên giảm liên tiếp khi các nhà giao dịch cân nhắc giữa giá nguyên liệu đầu vào ở mức thấp và lượng hàng vận chuyển sụt giảm gần đây, theo Reuters.
Hợp đồng quặng sắt giao tháng 5/2026 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) đóng cửa không đổi ở mức 761,5 nhân dân tệ/tấn (tương đương 110,19 USD).
Tổng lượng quặng sắt cập cảng tại 47 cảng của Trung Quốc đã giảm so với tuần trước trong giai đoạn từ ngày 2–8/2, theo dữ liệu do công ty tư vấn Mysteel công bố.
Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên ở mức thấp trong bối cảnh các yếu tố cơ bản của thị trường yếu đã khuyến khích các nhà máy thép tăng mua nguyên liệu đầu vào.
Mặc dù việc tăng tốc độ dỡ hàng tại cảng gần đây và lượng hàng đến giảm đã phần nào làm giảm áp lực phía cung, tồn kho tại các cảng vẫn ở mức cao, theo nhận định của Shanghai Metals Market.
Shanghai Metals Market cho biết hiện chưa có điểm đảo chiều rõ ràng cho quá trình giảm tồn kho, và mức tồn kho cao sẽ tiếp tục gây áp lực lên giá.
Do thiếu các biện pháp kích thích của chính phủ nhằm giải quyết sự suy giảm mang tính cơ cấu của nhu cầu, thị trường quặng sắt nhiều khả năng sẽ tiếp tục đối mặt với khó khăn trong năm tới, theo báo cáo của ANZ Research.
Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên sàn DCE cũng diễn biến kém tích cực, trong đó than luyện cốc giảm 1,67% và than cốc giảm 1,71%.
Theo Shanghai Metals Market, tâm lý thị trường đối với than luyện cốc và than cốc vẫn ảm đạm do nhu cầu đối với các sản phẩm thép thành phẩm yếu và tồn kho cao.
Hầu hết các hợp đồng thép chuẩn trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải đều giảm. Thép thanh giảm 0,55%, thép cuộn cán nóng giảm 0,65%, thép không gỉ giảm 0,63%, trong khi thép dây tăng 0,18%.
Trong nước, giá thép xây dựng bình ổn trở lại. Cụ thể, Hòa Phát báo giá thép D10 CB300 ở mức 14.260 đồng/kg, tương đương giá thép cuộn CB240.
Tương tự, Thép Việt Ý miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 và D10 CB300 lần lượt 14.140 và 14.040 đồng/kg. Thép VAS miền Trung ghi nhận giá CB240 13940 đồng/kg và CB300 13640 đồng/kg.
Tại thép Việt Đức miền Bắc, giá thép CB240 ở mức 13.950 đồng/kg, CB300 ghi nhận 13.750 đồng/kg. Thép Kyoei ghi nhận CB240 13940 đồng/kg và CB300 13740 đồng/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 11/2/2026. Nguồn: SteelOnline
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-thep-hom-nay-112-giang-co-khi-gia-nguyen-lieu-dau-vao-va-nhu-cau-deu-thap-dip-can-tet-202621175111359.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/