Giá than đen (carbon black) tại Trung Quốc vừa ghi nhận mức cao nhất lịch sử sau khi tăng hơn 50% trong vòng một tháng, kéo theo nhóm cổ phiếu ngành tăng trần. Đợt tăng bắt nguồn từ chi phí và nguồn cung co hẹp, không đến từ nhu cầu bùng nổ.
Theo dữ liệu theo dõi của SunSirs, giá than đen nội địa Trung Quốc đã tăng dựng đứng trong tháng qua. Tính đến ngày 15/9, giá thị trường của loại N220 đạt 12.778,57 nhân dân tệ/tấn (khoảng 50,3 triệu đồng/tấn), tăng 50,59% so với một tháng trước và tăng 73,62% so với cùng kỳ năm ngoái - mức cao nhất trong lịch sử. So với đầu tháng 9, khi giá tham chiếu là 9.142,8 nhân dân tệ/tấn, mức tăng ghi nhận 39,77%.
Đáng chú ý, đây sự điều chỉnh giá do chi phí và ràng buộc từ phía nguồn cung, không xuất phát từ nhu cầu hạ nguồn tăng nóng hay đầu cơ.
Hắc ín than đá (coal tar) chiếm 65–80% giá thành sản xuất than đen, nên giá nguyên liệu này tăng mạnh đã trực tiếp đẩy chi phí sản xuất đi lên.
Nguyên nhân sâu xa của đà tăng giá hắc ín lại là sự thu hẹp nguồn cung than luyện cốc. Từ đầu năm tới nay, tiến độ khôi phục sản xuất tại các mỏ ở những vùng khai thác trọng điểm chậm hơn dự kiến do kiểm tra an toàn và rà soát môi trường. Khoảng trống nguồn cung than mỡ luyện cốc chất lượng cao vì thế lộ rõ, đẩy giá tăng khoảng 77% từ đầu năm.
Chi phí than tăng khiến các doanh nghiệp luyện cốc thua lỗ trên diện rộng. Để hạn chế lỗ, phần lớn đã chủ động hạ tải sản xuất và kéo dài chu kỳ bảo dưỡng thiết bị, khiến công suất vận hành chung của ngành giảm mạnh. Do hắc ín là sản phẩm phụ của quá trình luyện cốc, sản lượng mặt hàng này sụt giảm theo, tồn kho giao ngay luôn ở mức thấp. Một số doanh nghiệp còn chuyển từ bán ra thị trường sang tự sử dụng nội bộ, càng làm nguồn hàng khan hiếm.
Ở chiều ngược lại, nhu cầu hắc ín trong tháng 9 lại tăng. Xuất khẩu nhựa hắc ín cải thiện và biên lợi nhuận mở rộng, khối chế biến sâu duy trì công suất cao. Cộng thêm hoạt động tích trữ dồn dập trước kỳ nghỉ Trung thu và Quốc khánh, mất cân đối cung cầu trở nên gay gắt. Giá hắc ín nhiệt độ cao tăng 2.200–2.270 nhân dân tệ/tấn chỉ trong hai tuần, trong đó có một tuần tăng gần 2.000 nhân dân tệ/tấn – đạt mức kỷ lục.
Bản thân các doanh nghiệp than đen cũng đang chịu sức ép vận hành rất lớn. Ngành ghi nhận lỗ liên tục kể từ quý IV/2025, tổng lợi nhuận toàn ngành nửa đầu năm 2026 ở mức âm 115 triệu nhân dân tệ.
Sau khi chi phí nguyên liệu tăng vọt, doanh nghiệp rơi vào áp lực cực độ, vừa phải giao các đơn hàng giá thấp đã ký trước đó, vừa gánh chi phí nguyên liệu hiện hành ở mức cao. Mức lỗ trên mỗi tấn lên cao kỷ lục, buộc họ đồng loạt cắt giảm sản lượng.
Do tác động cộng hưởng của việc thua lỗ trước đó, lịch bảo dưỡng và quy định môi trường, công suất chạy của ngành than đen Trung Quốc hiện chỉ quanh 65%. Các nhà sản xuất lớn nhìn chung đã giảm 30-40% sản lượng, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ dừng hẳn.
Tồn kho giao ngay toàn ngành ở mức thấp, phần lớn nhà máy sản xuất theo đơn đặt hàng, khiến nguồn cung sẵn có khan hiếm và tâm lý giữ hàng ngày càng phổ biến.
Về trung và dài hạn, chính sách môi trường cũng đang đẩy nhanh việc loại bỏ công suất lạc hậu. Tháng 4/2026, có 7 bộ ngành Trung Quốc ban hành chỉ thị chung đưa ngành than đen vào phạm vi nâng cấp, cải tạo các cơ sở cũ. Theo đó, một loạt dây chuyền quy mô vừa và nhỏ không đạt chuẩn môi trường đứng trước nguy cơ đóng cửa hoặc bị hạn chế sản xuất.
Sản xuất lốp xe là lĩnh vực hạ nguồn lớn nhất, chiếm hơn 60% tổng tiêu thụ than đen nội địa Trung Quốc. Hiện công suất vận hành lốp toàn thép và bán thép đều quanh 65%. Khi mùa cao điểm truyền thống “tháng 9 vàng” tới gần, các nhà sản xuất lốp tăng tích trữ trước kỳ nghỉ lễ, tạo nền nhu cầu thiết yếu cho than đen.
Tuy vậy, các nhà sản xuất lốp phản ứng khá dè dặt với đà tăng giá quá nhanh, phần lớn chỉ mua theo nhu cầu và thực hiện hợp đồng dài hạn thay vì gom hàng, khiến thị trường rơi vào trạng thái giá tăng nhưng giao dịch trầm lắng. Tiêu dùng cuối cùng cũng chưa có bước nhảy đột biến, cho thấy khả năng hấp thụ giá cao từ nhu cầu tiêu thụ là có hạn.
Ở các nước khác ngoài Trung Quốc, sản xuất than đen chủ yếu dùng dầu FCC - sản phẩm phụ của lọc dầu, do vậy giá than đen sẽ bám sát dầu thô. Các xung đột địa chính trị, trong đó có cuộc chiến năm 2026 liên quan tới Mỹ, Israel và Iran, đã đẩy mặt bằng giá dầu Brent từ khoảng 72 USD/thùng trước xung đột lên trên 108 USD/thùng, kéo giá than đen toàn cầu đi lên.
Việt Nam gần như không sản xuất than đen ở quy mô công nghiệp và phụ thuộc vào nhập khẩu, trong đó Trung Quốc chiếm khoảng 72% giá trị nhập khẩu mặt hàng này (mã HS 2803), tương đương 314 triệu USD trong tổng 436 triệu USD, theo UN Comtrade. Các nguồn còn lại là Hàn Quốc (8,7%), Ấn Độ (6,6%) và Thái Lan (3,3%).
Kim ngạch nhập khẩu than đen (HS 2803) của Việt Nam, 2011–2022. Nguồn: L.H tổng hợp TrendEconomy/UN Comtrade.
Về cơ cấu xuất khẩu than đen của Trung Quốc, năm 2023, Việt Nam đứng thứ hai, chiếm 22% tổng kim ngạch (228 triệu USD), chỉ sau Thái Lan. Mức độ gắn kết hai chiều này khiến biến động giá tại Trung Quốc sẽ tác động tới giá nhập khẩu của Việt Nam, dù có độ trễ vài tuần đến vài tháng tùy hợp đồng.
Kim ngạch xuất khẩu than đen (HS 2803) của Trung Quốc, 2012–2023.
Nguồn: L.H tổng hợp TrendEconomy/UN Comtrade.
Đối tượng chịu tác động là ngành săm lốp - lĩnh vực tiêu thụ than đen lớn nhất. Tại Cao su Đà Nẵng (DRC), than đen chiếm khoảng 15% cơ cấu chi phí nguyên vật liệu, chỉ sau cao su thiên nhiên (39%) và trên cả cao su tổng hợp (13%); nguyên vật liệu của doanh nghiệp chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan, theo báo cáo phân tích của FPTS.
Bên cạnh nhóm nội địa gồm DRC, CTCP Công nghiệp Cao su Miền Nam (CSM) và CTCP Cao su Sao Vàng (SRC), Việt Nam còn là điểm đến của nhiều nhà máy FDI quy mô lớn như Công ty TNHH Sailun Việt Nam (Tây Ninh), Công ty Cao su Kenda (Việt Nam) và Công ty TNHH Sản xuất Lốp xe Bridgestone Việt Nam (Hải Phòng).
Hiện tại, cả nhà sản xuất than đen lẫn các hãng lốp xe hạ nguồn đều đang chịu áp lực lớn khi biên lợi nhuận toàn chuỗi bị thu hẹp đáng kể. Diễn biến thời gian tới sẽ phụ thuộc vào việc đà tăng giá của hắc ín có hạ nhiệt hay không và năng lực chịu đựng chi phí của các nhà sản xuất lốp xe đến đâu.
Mặc dù vậy, giới chuyên môn vẫn kỳ vọng sau chu kỳ thanh lọc vì dư thừa công suất kéo dài, ngành than đen đang mở ra cơ hội phục hồi nhờ cơ cấu nguồn cung thắt chặt hơn. Khi lượng đơn hàng giá rẻ và cũ dần được giải phóng, thị trường có triển vọng khởi sắc đồng thời cả về quy mô sản xuất lẫn mặt bằng giá.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-than-den-trung-quoc-lap-dinh-lich-su-tac-dong-ra-sao-toi-nganh-sam-lop-viet-nam-2026917234922376.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/