Đầu tư công mới chỉ giải ngân được hơn 35%, áp lực vốn hàng triệu tỷ đồng đè nặng lên tín dụng

Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân vốn đầu tư công mới đạt trên 35%, áp lực lên hệ thống tín dụng là rất lớn bởi thị trường vốn chưa thực sự phát triển.

Theo ước tính, để Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, tăng trưởng GDP giai đoạn 2026 - 2030 được kỳ vọng đạt từ 10% trở lên.

Với một nền kinh tế còn cần vào vốn để thúc đẩy tăng trưởng, theo báo cáo từ Bộ Tài chính, ước tính Việt Nam cần tới 38,5 triệu tỷ đồng trong 5 năm. Trong đó khu vực Nhà nước đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, phần còn lại khoảng 30 triệu tỷ đồng đến từ doanh nghiệp trong nước, khu vực FDI và thị trường tài chính trong và ngoài nước…

Năm nay, nguồn vốn đầu tư công được phân bổ đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, như vậy vốn từ các thành phần khác của nền kinh tế sẽ lên tới gần 6 triệu tỷ đồng.

Trong bối cảnh, 6 tháng đầu năm, giải ngân vốn đầu tư công mới đạt trên 35%, các chuyên gia đánh giá, áp lực lên hệ thống tín dụng là rất lớn bởi thị trường vốn chưa thực sự phát triển.

'Không thể xây dựng nền kinh tế 40 năm bằng nguồn vốn 12 tháng'

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC). (Ảnh: VNB).

Trao đổi tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” diễn ra ngày 14/7, ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), cho rằng trong 6 tháng đầu năm, GDP tăng trưởng 8,18% nên để đạt mục tiêu cả năm, nửa cuối năm sẽ phải tăng trưởng trên 11%.

Như vậy, trọng trách của đầu tư vốn của hệ thống thị trường vốn rất là quan trọng, ông Sơn đánh giá.

Hiện quy mô thị trường vốn của Việt Nam đạt khoảng 410 tỷ USD, lớn hơn Philippines, gần bằng với Thái Lan (khoảng 500 tỷ USD) nhưng vẫn chỉ bằng một nửa của Singapore. 

Đáng lưu ý, thị trường vốn Việt Nam vẫn dựa nhiều vào vốn tín dụng khi tín dụng ngân hàng thường xuyên gánh vác từ 50 - 60% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, vượt trội hơn hẳn so với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (chỉ chiếm 3 - 6%) và thị trường cổ phiếu (10 - 18%), còn lại là đầu tư công, FDI và vốn tự có của doanh nghiệp.

Tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước đạt 18,4 triệu tỷ đồng, đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên mức 147%, vượt ngưỡng an toàn theo khuyến cáo của IMF và WB.

Ông Sơn cho rằng điều này cho thấy, quy mô thị trường vốn đã khá lớn nhưng mất cân đối.

Phát biểu tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” diễn ra sáng ngày 15/7, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, thẳng thắn chỉ ra, Việt Nam chỉ còn 3 đến 5 năm nữa để tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.

"Là bởi tín dụng ngân hàng đang liên tục tăng trưởng 15 - 16% mỗi năm, cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ khoảng 3 - 5% thì việc mất cân đối ngày càng trở lên nghiêm trọng", bà Minh nói.

Trong tương lai, khi ngành ngân hàng tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế, áp lực về vốn sẽ tiếp tục gia tăng. Việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo lộ trình sẽ khiến ngân hàng phải huy động nhiều nguồn vốn dài hạn hơn, đồng nghĩa chi phí vốn có thể tăng lên.

"Không thể xây dựng một nền kinh tế 40 năm bằng nguồn vốn kỳ hạn 12 tháng”, chuyên gia Dragon Capital dẫn lại một nhận định mà bà cho rằng phản ánh đúng thách thức của các nền kinh tế mới nổi.

Theo báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tại thị trường Việt Nam, khoảng 80% lượng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi dư nợ cho vay trung và dài hạn từng chiếm tới 47% tổng dư nợ. Sự chênh lệch kỳ hạn mang tính cấu trúc này tạo ra độ lệch pha ước tính lên tới 5,7 triệu tỷ đồng (tính đến 30/4/2026), gây khủng hoảng thanh khoản.

Vì vậy, nếu tiếp tục kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách bơm tín dụng ồ ạt, rủi ro vĩ mô sẽ gia tăng khó lường.

Rủi ro vĩ mô khó lượng

 

Dẫn số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, SSI cho biết, đến cuối tháng 6, tín dụng ngân hàng tăng 7,41% từ đầu năm, trong khi tiền gửi chỉ tăng 5,02%, khiến khoảng cách tín dụng – tiền gửi nới rộng so với năm 2025.

Các chuyên gia từ SSI Research nhận định: Đây không phải tình trạng thiếu hụt tín dụng, mà là vấn đề lưu thông. Xét trên tổng thể, Việt Nam có thanh khoản dồi dào; nhưng dòng chảy của lượng thanh khoản đó qua nền kinh tế thực đã chậm lại.

Phép thử của nửa cuối năm không phải là Việt Nam có tiền hay không, mà là dòng tiền ấy có luân chuyển đủ nhanh để cùng lúc nâng đỡ cả tăng trưởng lẫn các điều kiện tài chính hay không?

Phân tích thêm về quan điểm này, các nhà phân tích SSI chỉ ra, ở khía cạnh tài khóa, thu ngân sách nhà nước nửa đầu năm 2026 tăng 17,4% so với cùng kỳ, trong khi tổng chi gần như đi ngang (tăng 0,1%). Số dư tiền mặt của khu vực công tích lũy lại ngay cả khi các ngân hàng chịu sức ép về nguồn vốn.

Điều này không rút cạn thanh khoản hệ thống ngân hàng một cách trực tiếp, nhưng làm chậm quá trình luân chuyển thanh khoản trở lại nền kinh tế thực cho tới khi chi tiêu tài khóa được triển khai.

Khi giải ngân tăng tốc, dòng tiền chảy đến nhà thầu, nhà cung cấp và người lao động, rồi quay về hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi. Khi giải ngân chậm lại, khoảng cách tín dụng – tiền gửi vẫn rộng và nguồn vốn ngoài tiền gửi sẽ lấp vào chỗ trống.

Vì vậy, các chuyên gia SSI khuyến nghị, “van xả” áp lực của nền kinh tế lúc này không nằm ở nới lỏng tiền tệ, mà ở khả năng thực thi tài khóa.

Đầu tư công không chỉ quan trọng với vai trò là động lực tăng trưởng GDP, mà còn như một cơ chế bơm thanh khoản vào hệ thống. Đây là con đường ngắn nhất để giảm áp lực nguồn vốn, trong bối cảnh lạm phát và tỷ giá đang thu hẹp đáng kể dư địa nới lỏng chính sách trên diện rộng của Ngân hàng Nhà nước.

Còn theo ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch VSDC, Kết luận 18 của Ban Bí thư đã đưa ra mục tiêu từ năm 2026 đến 2030, chúng ta phải huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng thông qua thị trường cổ phiếu, chưa tính đến thị trường công cụ nợ.

Đây là một thách thức nhưng là giải pháp để đảm bảo vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 đến 2030.

Chuyên gia Phạm Xuân Hoè, Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam. (Ảnh: CIEM).

Chia sẻ tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” diễn ra ngày 9/7, ông Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng cũng nêu 5 giải pháp để phát triển thị trường vốn.

Trong đó bao gồm việc nhanh chóng nâng hạng thị trường chứng khoán, củng cố niềm tin để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích các quỹ đầu tư dài hạn và quỹ hưu trí tự nguyện.

Đồng thời, cần tái định vị vai trò Ngân hàng Phát triển (VDB); hình thành các định chế đầu tư chiến lược; đẩy mạnh khu vực tài chính phi ngân hàng và khơi thông dòng tài chính kiểu mới.

Cần thể chế hóa để tận dụng các nguồn lực từ tài chính xanh, thị trường carbon (như mô hình China Green Development Fund), kiều hối, và tài chính hóa nguồn vàng trong dân, ông Hòe nhấn mạnh.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/dau-tu-cong-moi-chi-giai-ngan-duoc-hon-35-ap-luc-von-hang-trieu-ty-dong-de-nang-len-tin-dung-2026715122215853.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/