Trong năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã giao kế hoạch đầu tư công cho các bộ, cơ quan Trung ương với tổng vốn hơn 995.000 tỷ đồng, cao hơn khoảng 93.000 tỷ đồng so với năm 2025.
Ngoài kế hoạch Thủ tướng giao, nhiều địa phương còn chủ động bố trí thêm vốn từ ngân sách cân đối của mình. Theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo, kế hoạch vốn cân đối ngân sách địa phương năm 2026 được các địa phương giao tăng thêm gần 13.000 tỷ đồng so với mức Thủ tướng Chính phủ giao.
Bên cạnh đó, phần vốn của các năm trước được phép kéo dài sang năm 2026 là 330,3 tỷ đồng. Như vậy, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao lên tới 1.008.610,9 tỷ đồng.
Nhìn nhận con số này, theo TS. Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam, với quy mô rất lớn, đầu tư công có thể đóng góp khoảng 1,5 - 2,0 điểm % vào tăng trưởng GDP năm 2026, chưa kể tác động gián tiếp thông qua việc kích hoạt thêm đầu tư tư nhân.
Cụ thể, nếu nguồn vốn nhà nước được tập trung vào hạ tầng giao thông, năng lượng và các công trình chiến lược, chi phí logistics sẽ giảm, kết nối vùng được cải thiện và môi trường đầu tư trở nên thuận lợi hơn. Điều này giúp nâng hiệu quả sử dụng vốn của khu vực tư nhân và góp phần cải thiện năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại nhiều nền kinh tế mới nổi, mỗi 1 đồng đầu tư hạ tầng công có thể huy động được hơn 1 đồng đầu tư tư nhân theo thời gian”, ông Tuấn nêu rõ.
Bên cạnh quy mô, cơ cấu và cách quản trị vốn đầu tư công cũng đóng vai trò quan trọng. Chính phủ định hướng giai đoạn 2026 - 2030 khống chế số dự án sử dụng vốn nhà nước không quá 3.000 dự án, giảm mạnh so với các giai đoạn trước, nhằm tránh dàn trải và tập trung nguồn lực cho các dự án lớn, có tác động lan tỏa cao.
Việc chuyển từ mô hình “nhiều dự án nhỏ, phân tán” sang tập trung vào các dự án quy mô lớn, mang tính chiến lược được kỳ vọng sẽ nâng hiệu quả sử dụng vốn và gia tăng tác động tăng trưởng trên mỗi đồng đầu tư.
Ngoài ra, đầu tư công tạo “neo cầu” mạnh cho doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Năm 2026, các tổ chức tín dụng dự báo tăng trưởng tín dụng khoảng 18,1%, trong đó nhu cầu vay của doanh nghiệp, nhất là nhóm liên quan hạ tầng, xây dựng, sản xuất, sẽ dẫn dắt. Nếu các dự án công triển khai tốt, sẽ tạo đơn hàng ổn định cho vật liệu xây dựng, máy móc, dịch vụ và kích hoạt đầu tư liên quan của khu vực tư nhân.
“Điều này giúp dòng tín dụng đi vào khu vực sản xuất thực, giảm rủi ro vốn dư thừa chảy chủ yếu vào bất động sản đầu cơ hay tài sản tài chính. Về ổn định vĩ mô tài chính, đây là cơ hội để “đồng pha” kích thích tài khóa với một chu kỳ tín dụng theo hướng chất lượng”, ông Tuấn kỳ vọng.
TS. Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam. (Ảnh: NVCC)
Tuy vậy, theo chuyên gia này, việc mở rộng quy mô đầu tư công cũng đặt ra không ít thách thức. Trước hết, điểm nghẽn trong khâu thực thi, đặc biệt là giải phóng mặt bằng, chuẩn bị dự án và thủ tục hành chính, vẫn là rào cản lớn.
Kinh nghiệm các năm cho thấy bồi thường, thu hồi đất và tái định cư là nguyên nhân phổ biến khiến nhiều dự án chậm tiến độ, dù nguồn vốn đã được bố trí. Bên cạnh đó, việc vừa phải hoàn tất giải ngân phần vốn còn lại của năm trước, vừa khởi động kế hoạch vốn mới có thể tạo áp lực lớn lên năng lực điều hành ở nhiều cấp.
Thứ hai, rủi ro chạy theo số lượng thay vì chất lượng khi áp lực giải ngân quá cao. Nếu các chỉ tiêu đánh giá chủ yếu dựa vào tỷ lệ giải ngân, một số địa phương hoặc chủ đầu tư có thể ưu tiên các dự án dễ giải ngân thay vì các dự án có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Điều này có thể dẫn tới tình trạng thi công vội vàng, giảm tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc môi trường, khiến hiệu quả đầu tư không tương xứng.
Thứ ba, rủi ro tài khóa và tài chính cũng có thể gia tăng nếu việc lựa chọn và triển khai dự án không chặt chẽ. Quy mô vốn càng lớn càng đòi hỏi kiểm soát tốt nguy cơ đội vốn, kéo dài tiến độ hoặc phát sinh tiêu cực.
“Ở cấp vĩ mô, việc mở rộng đầu tư công có thể làm gia tăng nhu cầu vay vốn và áp lực lên bội chi ngân sách; trong khi ở cấp vi mô, các dự án kém hiệu quả có thể trở thành gánh nặng tài chính cho ngân sách trong tương lai hoặc tạo rủi ro đối với hệ thống ngân hàng nếu các khoản đồng tài trợ không đạt hiệu quả như kỳ vọng”, ông Tuấn nêu rõ.
Còn theo TS. Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), thực tế thời gian qua vẫn còn không ít dự án đầu tư công chậm tiến độ, thậm chí bị “treo” hoặc dở dang trong thời gian dài. Những dự án này không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn làm mất đi cơ hội phát triển, ảnh hưởng tới đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhiều công trình chậm triển khai đã trở thành điểm nghẽn đối với phát triển kinh tế xã hội, gây cản trở giao thông, ảnh hưởng đến môi trường sống và làm giảm niềm tin của người dân cũng như nhà đầu tư. Trong khi đó, tâm lý e ngại trách nhiệm, sợ sai trong quá trình thực thi chính sách vẫn là rào cản khiến việc triển khai các dự án đầu tư công ở một số nơi chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
TS. Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Từ thực tế này, vị chuyên gia này cho rằng cần rà soát nghiêm túc toàn bộ quá trình từ khâu thiết kế, quy hoạch đến tổ chức thực hiện các dự án đầu tư công. Trách nhiệm giải trình phải được xác định rõ ngay từ đầu, gắn với nguyên tắc “ba rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong từng khâu của dự án.
Bên cạnh đó, quá trình phê duyệt và triển khai dự án cần chú trọng tạo sự đồng thuận của xã hội, đặc biệt là người dân và các bên liên quan. Việc công khai thông tin đầy đủ, kịp thời về các dự án đầu tư công trước, trong và sau quá trình triển khai sẽ giúp tăng tính minh bạch, qua đó tạo sự ủng hộ và tham gia của cộng đồng, góp phần bảo đảm tiến độ và hiệu quả của dự án.
Ngoài ra, cần nâng cao năng lực quản trị dự án đầu tư công theo hướng hiện đại, áp dụng các phương thức quản trị tiên tiến và các công cụ đánh giá rủi ro theo thông lệ quốc tế. Đồng thời, trong quá trình triển khai cũng cần trao quyền linh hoạt hơn cho chủ đầu tư và nhà thầu trong phạm vi cho phép, nhằm xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Khi các cơ chế, chính sách mới về đầu tư công và đấu thầu đã được hoàn thiện theo hướng cởi mở hơn, yếu tố quyết định chính là khâu thực thi.
"Nếu các cơ quan quản lý và chính quyền địa phương chủ động hơn, vượt qua tâm lý sợ sai và tăng cường trách nhiệm trong điều hành, đầu tư công sẽ phát huy tốt vai trò dẫn dắt, mở rộng không gian tăng trưởng và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn tới”, ông Việt nhìn nhận.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/dau-tu-cong-hon-1-trieu-ty-dong-ky-vong-them-2-diem-gdp-nam-2026-202639132910615.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/