Hành trình vươn ra biển lớn của các doanh nghiệp Việt Nam không phải là một con đường trải hoa hồng. Đó là quá trình tích lũy nguồn lực, thay đổi tư duy và những quyết định mang tính bước ngoặt của những người đứng đầu.
Từ những lô hàng xuất khẩu đầu tiên cho đến các thương vụ mua bán sáp nhập (M&A) trị giá hàng chục, hàng trăm triệu USD, các CEO của Vinamilk, Masan, FPT và Viettel đã trực tiếp đứng nơi đầu sóng ngọn gió, định hình chiến lược đưa thương hiệu Việt cắm cờ trên bản đồ kinh tế toàn cầu.
Chủ tịch FPT Trương Gia Bình. Ảnh: Giang Huy/VnExpress.
Câu chuyện toàn cầu hóa của FPT bắt đầu từ một buổi chiều tháng 9/1998. Khi Chủ tịch Hội đồng quản trị Trương Gia Bình đặt ra chủ đề xuất khẩu phần mềm, ông nhận lại hàng loạt ý kiến từ các đồng đội: “Chúng ta không biết làm phần mềm”, “Không có cơ hội”. Thế nhưng, với ngân sách 1 triệu USD được cấp, ông Trương Gia Bình cùng Nguyễn Thành Nam đã dẫn quân sang Bangalore (Ấn Độ) để "thỉnh kinh".
Những ngày đầu, FPT nếm trải thất bại. Lễ xuất quân hoành tráng sang Mỹ vào năm 1999 đã phải kết thúc bằng việc đóng cửa văn phòng vào mùa xuân năm 2002.
Rút kinh nghiệm, Chủ tịch Trương Gia Bình thay đổi chiến lược, nhắm đến những "người khổng lồ" và đích thân sang Pháp thuyết phục IBM ký hợp đồng gia công, mở ra tệp khách hàng lớn đầu tiên.
Đồng thời, FPT chuyển hướng sang thị trường Nhật Bản, tuân thủ các quy tắc khắt khe của đối tác và dần đạt được mức tăng trưởng doanh số 200% vào năm 2004 tại thị trường này.
Khi đã tích lũy đủ nội lực, dưới sự dẫn dắt của các thế hệ CEO từ Nguyễn Thành Nam, Bùi Quang Ngọc đến Nguyễn Văn Khoa, FPT bước vào giai đoạn chuyển đổi số và tăng tốc M&A quốc tế.
Thương vụ M&A nước ngoài đầu tiên diễn ra vào năm 2014 khi FPT mua lại RWE IT Slovakia. Đến tháng 7/2018, FPT tạo tiếng vang khi thâu tóm 90% cổ phần công ty tư vấn Intellinet (Mỹ) với giá trị khoảng 40 - 50 triệu USD.
CEO FPT Nguyễn Văn Khoa. Ảnh: FPT.
Dưới thời CEO Nguyễn Văn Khoa, chiến lược M&A tiếp tục được đẩy mạnh. Đầu năm 2023, FPT mua lại mảng dịch vụ công nghệ của Intertec International, mở rộng hiện diện tại Costa Rica, Colombia và Mexico. Cuối năm 2023, FPT tiếp tục thâu tóm Cardinal Peak - công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật công nghệ tại Bắc Mỹ.
Chiến lược này không dừng lại ở Mỹ. Tháng 3/2024, FPT lần đầu mua lại 100% vốn một công ty tại Nhật Bản là Next Advanced Communications (NAC), tận dụng nguồn nhân lực gần 300 kỹ sư bản địa.
Tiến vào năm 2025 và 2026, FPT liên tiếp thực hiện các thương vụ chiến lược: đầu tư vào Daythree Digital (Malaysia) tháng 9/2025, ký thỏa thuận đầu tư tối đa 10% vào Blueward (Hàn Quốc) tháng 12/2025, và mua lại bộ phận thiết kế, phát triển của Nippon Seiki Europe tại Ba Lan vào tháng 9/2026 để tiến sâu vào mảng phần mềm ô tô.
Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viettel Tào Đức Thắng. Ảnh: VGP.
Khác với mô hình gia công hay M&A công ty ngoại, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) chọn phương án tự xây dựng hạ tầng mạng lưới tại các quốc gia đang phát triển.
Bắt đầu tiến quân ra nước ngoài từ năm 2006, định hướng của Viettel dưới thời các Tổng Giám đốc Hoàng Anh Xuân, Nguyễn Mạnh Hùng và Lê Đăng Dũng là chiến lược phổ cập viễn thông "4 Any" (mọi nơi, mọi lúc, mọi người, mọi giá).
Viettel chọn đầu tư trước rồi mới kinh doanh, phủ sóng rộng khắp cả vùng sâu vùng xa thay vì chỉ tập trung ở thành thị. Tháng 2/2009, Viettel khai trương mạng Metfone tại Campuchia và đến tháng 10/2009 là Unitel tại Lào. Cả hai thị trường này sau đó đều vươn lên dẫn đầu về thị phần.
Chấp nhận những thị trường khắc nghiệt nhất, Viettel bước chân vào Haiti (Natcom năm 2011) ngay sau trận động đất lịch sử tàn phá hạ tầng quốc gia này.
Tại châu Phi, Viettel đầu tư vào Mozambique (Movitel năm 2012), Cameroon (Nexttel năm 2014), Burundi (Lumitel năm 2015) và Tanzania (Halotel năm 2015).
Trong đó, tại Burundi, dù xảy ra chính biến năm 2015 khiến nhiều nhà đầu tư rút lui, Viettel vẫn ở lại và đưa Lumitel lên vị trí số 1 chỉ sau 6 tháng. Tại thị trường Nam Mỹ, Bitel (Peru) khai trương tháng 10/2014 với hạ tầng chỉ có 3G, và tại châu Á, Mytel (Myanmar) đi vào hoạt động tháng 6/2018.
Dưới sự điều hành của Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tào Đức Thắng (từ tháng 1/2022), Viettel chuyển từ mô hình "đầu tư ra nước ngoài" sang chiến lược kinh doanh toàn cầu "Go Global 2.0".
Tới tháng 8/2026, Viettel trúng thầu quyền sử dụng 3 băng tần vô tuyến điện tại Cộng hòa Dominica, đánh dấu thị trường quốc tế thứ 11 và là quốc gia thứ 3 tại châu Mỹ.
Tính đến giữa năm 2026, doanh thu lũy kế mảng đầu tư nước ngoài của Viettel đã đạt hơn 1 tỷ USD, đóng góp hơn 40% trong cơ cấu tăng trưởng chung của Tập đoàn, với 45.000 trạm thu phát sóng và 220.000 km cáp quang trên toàn cầu.
CEO Vinamilk Mai Kiều Liên. Ảnh: VNM.
Dưới sự điều hành liên tục từ năm 1992 của CEO Mai Kiều Liên, CTCP Sữa Việt Nam (Vinamilk) đã chọn cách kết hợp giữa đẩy mạnh xuất khẩu và thâu tóm/liên doanh các cơ sở sản xuất tại nước ngoài. Mục tiêu được thiết lập rõ ràng là đưa Vinamilk vào Top 30 công ty sữa lớn nhất thế giới.
Vinamilk bắt đầu khai thác thị trường xuất khẩu từ năm 1998 với lô hàng 300 tấn sữa bột và 2.000 tấn sữa béo nguyên kem sang Iraq. Tính đến các năm 2024-2025, sản phẩm Vinamilk đã hiện diện tại 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, với doanh thu xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng, đạt 5.664 tỷ đồng năm 2024 và 6.546 tỷ đồng năm 2025.
Để củng cố chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường, Vinamilk thực hiện hàng loạt dự án đầu tư quốc tế. Năm 2010, công ty rót vốn vào nhà máy Miraka (New Zealand) với tỷ lệ sở hữu ban đầu 19,3%, sau đó tăng lên 22,81% (2015) trước khi giảm tỷ lệ sở hữu xuống còn 13,55% vào năm 2025 do đối tác tăng vốn.
Năm 2013, Vinamilk mua lại 70% cổ phần công ty sữa Driftwood (California, Mỹ) với giá 7 triệu USD, và đến năm 2016 chi thêm 3 triệu USD để hoàn tất thâu tóm 100%.
Tại khu vực Đông Nam Á, công ty thành lập AngkorMilk tại Campuchia (năm 2014 góp vốn 51%, đến năm 2017 mua lại toàn bộ để nắm 100%).
Năm 2018, Vinamilk đầu tư vào Tổ hợp trang trại bò sữa Lao-Jagro tại Lào (ban đầu nắm 51%, sau tăng lên 87,3% vào 2022 và 92,07% vào năm 2025).
Năm 2021, Vinamilk lập liên doanh Del Monte - Vinamilk tại Philippines với số vốn ban đầu 6 triệu USD (tỷ lệ 50/50), tuy nhiên đến cuối năm 2024, HĐQT công ty đã quyết định dừng liên doanh này.
Tại châu Âu, Vinamilk thành lập công ty con 100% vốn tại Ba Lan (Vinamilk Europe) vào năm 2014 để làm cửa ngõ giao thương.
CEO Masan Group Danny Le. Ảnh: MSN.
Trong khi FPT xuất khẩu phần mềm, Viettel xuất khẩu viễn thông và Vinamilk xuất khẩu sữa, Masan Group lại bước ra quốc tế thông qua việc thâu tóm và tối ưu hóa các nền tảng công nghệ vật liệu và tiêu dùng trí tuệ nhân tạo.
Đóng vai trò điều hành xuyên suốt là Chủ tịch Nguyễn Đăng Quang và CEO Danny Le (từ tháng 6/2020). Dưới thời CEO Danny Le, định hướng chiến lược tập trung vào cốt lõi và tối đa hóa giá trị được thực thi mạnh mẽ.
Tháng 6/2020, Masan High-Tech Materials (MHT) hoàn tất giao dịch mua lại 100% nền tảng kinh doanh vonfram của H.C. Starck Group GmbH (Đức) với giá trị không được tiết lộ ban đầu.
Thương vụ này đưa MHT trở thành nhà chế tạo vật liệu công nghiệp công nghệ cao quy mô toàn cầu, sở hữu 105 bằng sáng chế và các tổ hợp sản xuất tại châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Quốc.
Tận dụng nền tảng của H.C. Starck, tháng 7/2022, đơn vị này tiếp tục đầu tư 45 triệu bảng Anh (khoảng 53 triệu USD) để nắm giữ 15% cổ phần của Nyobolt Limited (Anh) - công ty chuyên về giải pháp pin sạc nhanh sử dụng vonfram và niobium.
Tiến tới năm 2024, trong nỗ lực tái cấu trúc nhằm giảm nợ vay và tập trung vào mảng bán lẻ tiêu dùng cốt lõi, Tập đoàn Masan đã ký hợp đồng bán 100% H.C. Starck Holding (Germany) cho Mitsubishi Materials Corporation (Nhật Bản) với giá 134,5 triệu USD. Dù bán HCS, Masan vẫn giữ lại phần sở hữu tại Nyobolt để hưởng lợi nhuận tiềm năng khi công nghệ pin sạc nhanh được thương mại hóa.
Ở mảng công nghệ tiêu dùng, tháng 2/2023, Masan thông qua công ty con The Sherpa đã đầu tư 105 triệu USD để sở hữu 25% cổ phần tại Trust IQ (Singapore).
Đây là bước đi nhằm xây dựng nền tảng trí tuệ nhân tạo trong bán lẻ (Retail AI) và tiêu dùng (Consumer AI), phục vụ trực tiếp cho mô hình kinh doanh trong nước của Masan và hướng tới mục tiêu bành trướng ra toàn cầu.
Có thể thấy cách tiếp cận của FPT, Viettel, Vinamilk và Masan trên thị trường quốc tế là những lăng kính khác nhau về chiến lược toàn cầu hóa của doanh nghiệp Việt.
Dù bằng con đường tự xây dựng hạ tầng, xuất khẩu sản phẩm cốt lõi, hay thực hiện các thương vụ thâu tóm và thoái vốn chiến lược, các CEO của những tập đoàn này đã cho thấy tư duy điều hành linh hoạt.
Các quyết định vươn ra khỏi biên giới không chỉ giải quyết bài toán tăng trưởng doanh thu mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và định vị giá trị của doanh nghiệp Việt Nam trên các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/dau-an-ceo-viet-trong-cac-thuong-vu-ma-tram-trieu-do-o-nuoc-ngoai-2026101217466826.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/