Trong bảng lương của hàng triệu người Mỹ, hiện tại và tương lai cùng được chi trả. Một phần thu nhập phục vụ cuộc sống; phần khác được chuyển vào các chương trình hưu trí tại nơi làm việc, phổ biến nhất là 401(k) trong khu vực tư nhân và 403(b) tại khu vực công cùng một số tổ chức phi lợi nhuận.
401(k) hay 403(b) không phải những cuốn sổ tiết kiệm nhận lãi suất cố định. Đây là các tài khoản hưu trí có ưu đãi thuế, nơi người lao động đóng góp từ tiền lương, doanh nghiệp có thể đóng thêm, còn tài sản được đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ hoặc danh mục đa tài sản.
Theo Investment Company Fact Book của Investment Company Institute, đến cuối năm 2025, các chương trình hưu trí đóng góp xác định do doanh nghiệp tài trợ tại Mỹ quản lý khoảng 14.200 tỷ USD, trong đó 401(k) chiếm 10.100 tỷ USD và 403(b) khoảng 1.500 tỷ USD. Gần 5.800 tỷ USD tài sản 401(k) được đầu tư qua các quỹ tương hỗ.
Đằng sau những con số ấy là vô số khoản đóng góp nhỏ sau mỗi kỳ lương. Một phần thu nhập hôm nay trở thành vốn trên thị trường tài chính; nhiều năm sau, lợi nhuận đầu tư quay trở lại thành tài sản hưu trí. Điều đáng chú ý ở Mỹ không chỉ là người dân tiết kiệm bao nhiêu, mà là cách thu nhập từ lao động được kết nối với thị trường vốn trong hàng chục năm.
Người trẻ trong hệ thống 401(k) nắm tỷ trọng cổ phiếu cao hơn đáng kể, trong khi danh mục của nhóm lớn tuổi thận trọng hơn khi tiến gần tuổi nghỉ hưu. Nguồn: Investment Company Institute, 2026 Investment Company Fact Book.
Cách tiết kiệm thông thường thường đi theo trình tự: nhận lương, chi tiêu, rồi dành phần còn lại cho tương lai. Vấn đề là “phần còn lại” rất dễ bị những nhu cầu của hiện tại sử dụng hết.
Các chương trình hưu trí tại nơi làm việc đảo ngược trình tự ấy. Khoản dành cho tương lai được tách ra ngay khi thu nhập phát sinh, trước khi trở thành ngân sách chi tiêu. Tích sản không còn là việc phải nhớ vào cuối tháng, mà được đặt vào cùng nhịp với công việc và tiền lương.
Theo báo cáo How America Saves 2026 (Cách người Mỹ tiết kiệm) của Vanguard, 96% chương trình trong mẫu nghiên cứu có đóng góp từ người sử dụng lao động, qua cơ chế đối ứng, đóng góp cố định hoặc hình thức khác. Tài khoản hưu trí vì thế nằm ở giao điểm giữa chính sách công, doanh nghiệp và thị trường tài chính.
Nhà nước tạo khuôn khổ và ưu đãi thuế; doanh nghiệp tổ chức chương trình và có thể bổ sung tiền cho người lao động; các định chế tài chính đưa dòng vốn vào đầu tư; người lao động đều đặn dành một phần thu nhập cho tương lai. Nước Mỹ không thay mỗi cá nhân chịu trách nhiệm về tuổi già; họ thiết kế để trách nhiệm ấy dễ được thực hiện hơn.
96% chương trình hưu trí đóng góp xác định trong mẫu khảo sát của Vanguard có sự đóng góp từ doanh nghiệp; 99% người tham gia thuộc các chương trình có hình thức hỗ trợ này. Nguồn: Vanguard, How America Saves 2026. Nguồn: Vanguard.
Thách thức lớn của tích sản không hẳn nằm ở việc con người không hiểu cần tiết kiệm, mà ở khả năng biến hiểu biết ấy thành hành động lặp lại trong 30 hay 40 năm. Người trẻ thấy tuổi nghỉ hưu còn xa; người thu nhập thấp ưu tiên nhu cầu trước mắt; ngay cả người có điều kiện tài chính cũng có thể trì hoãn.
Cơ chế tự động đăng ký (automatic enrollment) thay đổi điểm xuất phát đó. Thay vì chờ người lao động chủ động tham gia, chương trình mặc nhiên đưa họ vào hệ thống với một tỷ lệ đóng góp xác định, trừ khi họ lựa chọn không tham gia hoặc điều chỉnh mức đóng góp.
Khác biệt tưởng nhỏ nhưng làm thay đổi ý nghĩa của việc “không làm gì”. Trong chương trình tự nguyện, không hành động đồng nghĩa không tích lũy. Trong chương trình tự động, không hành động vẫn đồng nghĩa quá trình tích sản đã bắt đầu.
Đến cuối năm 2025, 61% chương trình trong hệ thống Vanguard đã áp dụng cơ chế này. Tỷ lệ tham gia bình quân toàn hệ thống đạt 86%.
Hệ thống còn xử lý một vấn đề khác: bắt đầu sớm nhưng đóng góp quá ít cũng khó tạo đủ tài sản cho tuổi già. Năm 2025, 71% chương trình có tự động đăng ký trong mẫu Vanguard đồng thời áp dụng tăng mức đóng góp hằng năm và sử dụng một danh mục đầu tư cân bằng mặc định.
Người lao động có thể bắt đầu với mức đóng góp vừa phải, rồi tăng dần theo thời gian. Theo Vanguard, nếu tính trên toàn bộ người lao động đủ điều kiện tham gia, tổng mức đóng góp bình quân của người lao động và doanh nghiệp tại các chương trình tự động tương đương 12,2% thu nhập, so với 7,5% ở các chương trình đăng ký tự nguyện.
Một trong những bài học đáng giá nhất của Cách người Mỹ tiết kiệm nằm ở đây: kỷ luật tài chính không chỉ được tạo ra bằng ý chí, nó còn được tạo ra bằng một thiết kế đủ tốt.
Một hệ thống tích sản cuối cùng phải được đánh giá bằng khả năng biến những khoản đóng góp đều đặn thành tài sản. Đến cuối năm 2025, số dư bình quân trong các tài khoản thuộc hệ thống Vanguard đạt 167.970 USD, tăng 13% so với năm trước; số dư trung vị đạt 44.115 USD, tăng 16%. Vanguard lưu ý đây không phải toàn bộ tài sản hưu trí của mỗi cá nhân, bởi người lao động có thể còn tài khoản tại nơi làm việc cũ hoặc những hình thức tích lũy khác.
Vanguard cho biết cuối năm 2025, số dư bình quân đạt 167.970 USD, còn số dư trung vị là 44.115 USD, lần lượt tăng 13% và 16% so với năm 2024. Nguồn: Vanguard.
Các con số cho thấy tài sản không nhất thiết hình thành từ khoản vốn ban đầu lớn, mà từ những khoản tiền tương đối nhỏ được đóng góp đều đặn, đầu tư và tái đầu tư trong thời gian dài.
Trong 5 năm kết thúc ngày 31/12/2025, lợi suất bình quân của người tham gia các chương trình do Vanguard quản trị vào khoảng 9% mỗi năm. Đây là kết quả lịch sử, không phải mức sinh lời được bảo đảm, nhưng cho thấy tiền dành cho tuổi già không chỉ được cất giữ mà thực sự được đưa vào đầu tư để tìm kiếm tăng trưởng.
Bài toán tiếp theo là cách tổ chức danh mục. Một trong những công cụ phổ biến nhất là quỹ theo vòng đời, loại quỹ tự điều chỉnh cơ cấu tài sản theo khoảng thời gian còn lại trước tuổi nghỉ hưu. Người trẻ có thể nắm tỷ trọng cổ phiếu cao hơn; khi tuổi nghỉ hưu đến gần, danh mục dần chuyển sang cấu trúc thận trọng hơn.
Theo Vanguard, 96% chương trình trong hệ thống cung cấp loại quỹ này và phần lớn người lao động sử dụng khi có lựa chọn. Điểm đáng chú ý không phải họ trở thành nhà đầu tư giỏi hơn, mà là họ không cần tự mình giải quyết toàn bộ bài toán phân bổ tài sản trong suốt cuộc đời làm việc.
Đây là tầng thứ hai trong kiến trúc tích sản của Mỹ. Tầng thứ nhất khiến tiền được dành cho tương lai một cách đều đặn. Tầng thứ hai đưa số tiền ấy vào một phương pháp quản lý đủ đơn giản để duy trì trong hàng chục năm.
Theo cách đó, nước Mỹ biến hai quyết định vốn rất khó duy trì – tiết kiệm đều đặn và đầu tư có kỷ luật – thành những quy trình ngày càng ít phụ thuộc vào cảm xúc hay sự chú ý của từng cá nhân.
Đây cũng là điểm nối từ hệ thống 401(k) sang một thay đổi lớn của ngành quản lý tài sản hiện đại. Khi câu hỏi “có dành tiền cho tương lai hay không” dần được giải quyết bằng thiết kế, câu hỏi tiếp theo trở thành: làm thế nào quản lý số tiền ấy hiệu quả trong hàng chục năm mà người sở hữu không phải trở thành chuyên gia đầu tư?
Đầu tư chỉ số là một trong những câu trả lời lớn nhất cho câu hỏi đó. Và khi công nghệ ngày càng cho phép phương pháp ấy được triển khai trực tiếp tới từng tài khoản, ngành quản lý tài sản đang tiến thêm một bước mới: Direct Indexing – đầu tư chỉ số trực tiếp.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/cach-nguoi-my-bien-dau-tu-cho-tuong-lai-thanh-trang-thai-mac-dinh-202691594356236.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/